Bản tin Thuế tháng 2/2024

Mục lục

I. Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 01/2024

NKS xin thông báo hạn nộp hồ sơ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 01/2024 là Thứ Ba ngày 20/02/2024.

NKS lưu ý Quý Khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai sớm trước thời gian hết hạn ít nhất từ 1 đến 2 ngày để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

II. Thông báo nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai (HTKK) phiên bản 5.1.6

Tổng cục Thuế thông báo nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai (HTKK) phiên bản 5.1.6 đáp ứng Nghị quyết số 110/2023/QH15 về giảm thuế giá trị gia tăng (GTGT) đồng thời cập nhật một số nội dung phát sinh trong quá trình triển khai HTKK 5.1.5, cụ thể như sau:

1. Nâng cấp ứng dụng đáp ứng Nghị quyết số 110/2023/QH15 về giảm thuế GTGT

Nâng cấp chức năng kê khai đối với các tờ khai 01/GTGT (TT80/2021), 04/GTGT (TT80/2021), 01/CNKD (TT40/2021), 01/TTS (TT40/2021), cụ thể như sau:

– Sửa tên tên phụ lục PL 101/2023/QH15 khi chọn phụ lục đính kèm tờ khai thành PL_GiamThue_GTGT_23_24

– Cập nhật hiệu lực cho phép đính kèm PL_GiamThue_GTGT_23_24 như sau:

Đối với tờ khai 01/GTGT (TT80/2021): Cho phép đính kèm khi chọn ngành nghề “Hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường”, “Hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí”, “Nhà máy sản xuất điện khác địa bàn tỉnh nơi đóng trụ sở chính” đối với các kỳ thuế:

  • Kỳ tháng: Từ tháng 06/2023 đến tháng 06/2024
  • Kỳ quý: Từ quý 2/2023 đến quý 2/2024

Đối với tờ khai 04/GTGT (TT80/2021):

  • Trường hợp không tích chọn thu hộ: Kỳ tháng là từ tháng 06/2023 đến tháng 06/2024; Kỳ quý là từ quý 2/2023 đến quý 2/2024; Kỳ lần phát sinh từ ngày 01/07/2023 đến ngày 30/06/2024
  • Trường hợp tích chọn thu hộ: Kỳ tháng là từ tháng 07/2023 đến tháng 06/2024; Kỳ quý là từ quý 3/2023 đến quý 2/2024

Đối với tờ khai 01/CNKD (TT40/2021):

  • Kỳ tháng: Từ tháng 07/2023 đến tháng 06/2024
  • Kỳ quý: Từ quý 3/2023 đến quý 2/2024
  • Kỳ theo lần phát sinh: Từ ngày 01/07/2023 đến ngày 30/06/2024

Đối với tờ khai 01/TTS (TT40/2021):

  • Kỳ tháng: Từ tháng 07/2023 đến tháng 06/2024
  • Kỳ quý: Từ quý 3/2023 đến quý 2/2024
  • Kỳ theo lần thanh toán: Từ kỳ thanh toán” đến “Đến kỳ thanh toán” có giao với khoảng thời gian từ 01/07/2023 đến 30/06/2024

– Nâng cấp xử lý hiển thị tên phụ lục theo kỳ thuế kê khai:

  • Nếu kê khai kỳ thuộc năm 2023 và được đính kèm Phụ lục giảm thuế giá trị gia tăng thì hiển thị là: Phụ lục Giảm thuế Giá trị gia tăng theo Nghị quyết số 101/2023/QH15
  • Nếu kê khai kỳ thuộc năm 2024 và được đính kèm Phụ lục giảm thuế giá trị gia tăng thì hiển thị là: Phụ lục Giảm thuế Giá trị gia tăng theo Nghị quyết số 110/2023/QH15
  • Riêng đối với kỳ thanh toán vắt năm có khoảng thời gian từ ngày, đến ngày thuộc năm 2023 và 2024 và được đính kèm Phụ lục giảm thuế giá trị gia tăng thì hiển thị là: Phụ lục Giảm thuế Giá trị gia tăng theo Nghị quyết số 101/2023/QH15 và Nghị quyết số 110/2023/QH15

Lưu ý: Đối với các tờ khai bổ sung của các tờ khai 01/GTGT (TT80/2021), 04/GTGT (TT80/2021), 01/CNKD (TT40/2021), 01/TTS (TT40/2021) có điều chỉnh dữ liệu trên PL 101/2023/QH15 đã kê khai trên ứng dụng từ phiên bản 5.1.5 trở về trước, khi sử dụng phiên bản 5.1.6 người nộp thuế nhấn nút để hiển thị đúng tên Phụ lục điều chỉnh trên 01-1/KHBS theo tên mới là PL_GiamThue_GTGT_23_24

Nâng cấp Tờ khai khấu trừ thuế thu nhập cá nhân – mẫu 01/XSBHĐC (TT40/2021)

Cập nhật cảnh báo đúng tại trường dữ liệu không hợp lệ khi tải bảng kê excel 01-1/XSBHĐC lên ứng dụng.

Bắt đầu từ ngày 19/01/2024, khi lập hồ sơ khai thuế có liên quan đến nội dung nâng cấp nêu trên, tổ chức, cá nhân nộp thuế sẽ sử dụng các chức năng kê khai tại ứng dụng HTKK 5.1.6 thay cho các phiên bản trước đây.

Tổ chức, cá nhân nộp thuế có thể tải bộ cài và tài liệu hướng dẫn sử dụng ứng dụng HTKK tại địa chỉ sau: http://www.gdt.gov.vn/wps/portal/home/hotrokekhai

III. Tổng cục Thuế thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành

Ngày 11/01/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 03/2024/NĐ-CP quy định về cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.

Theo đó, Nghị định này được ban hành nhằm quy định chi tiết một số điều khoản của Luật Thanh tra năm 2022 cụ thể:

  • Thanh tra Tổng cục, Cục được thành lập tại Tổng cục, Cục thuộc Bộ; thanh tra sở; cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
  • Tại Điều 20 Nghị định số 3/2024/NĐ-CP quy định cụ thể về Tổng cục, Cục thuộc bộ được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Trong đó, Bộ Tài chính có các đơn vị sau: Cục Quản lý công sản; Cục Quản lý giá; Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm; Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí; Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán, Tổng cục Hải quan; Tổng cục Thuế.
  • Các Cục thuộc Tổng cục và tương đương được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành gồm: Bảo hiểm xã hội tỉnh; Cục Dự trữ Nhà nước; Cục Hải quan; Cục Quản lý thị trường; Cục Thống kê; Cục Thuế; Kho bạc Nhà nước tỉnh.
  • Nghị định cũng quy định 9 cơ quan thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ. Trong đó, Bộ Tài chính có Thanh tra Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Thanh tra Kho bạc Nhà nước, Thanh tra Tổng cục Dự trữ Nhà nước.

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/03/2024 và bãi bỏ Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành, Nghị định số 57/2013/NĐ-CP ngày 31/05/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra Ngành giao thông vận tải.

IV. Đề xuất sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng

Bộ Tài chính đã hoàn thiện Dự án Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) sửa đổi theo hướng tháo gỡ bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật thuế này. Từ đó đưa Luật Thuế GTGT tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong động viên vào ngân sách Nhà nước (NSNN) khi đây là sắc thuế có số thu lớn nhất trong hệ thống thu NSNN của Việt Nam hiện nay.

1. Sửa Luật đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc sống

Bộ Tài chính cho biết, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 được thông qua ngày 03/06/2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thay thế cho Luật thuế GTGT năm 1997 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT năm 2003, năm 2005 và đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần tại Luật số 31/2013/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014, Luật số 71/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, Luật số 106/2016/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016. Qua 15 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã đạt được các kết quả quan trọng.

  • Thuế GTGT tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong động viên vào NSNN khi đây là sắc thuế có số thu lớn nhất trong hệ thống thu NSNN của Việt Nam hiện nay. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, hiệu suất thu tốt của thuế GTGT góp phần đảm bảo cân đối cơ bản cho thu chi NSNN. Ngoài ra, do được nộp vào ngân sách kịp thời (hàng tháng, hàng quý kế tiếp tháng, quý phát sinh giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ) nên thuế GTGT tạo dòng tiền đều cho NSNN.
  • Từ năm 2013 đến năm 2022, mặc dù nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng bởi kinh tế thế giới nhưng số thu về thuế GTGT vẫn được bảo đảm, tăng trưởng đều qua các năm và ổn định về tỷ trọng thu thuế GTGT trong tổng số thu NSNN.
  • Theo thống kê của cơ quan quản lý thu thì số thu về thuế GTGT luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu NSNN cũng như chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu về thuế, cụ thể: Năm 2014 khoảng 26,9%, năm 2019 khoảng 23,3%, năm 2020 khoảng 22,7%, năm 2021 khoảng 23,6% (năm 2020, 2021 chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19), năm 2022 khoảng 24,5%.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, do sự biến động nhanh của kinh tế – chính trị thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, qua triển khai thực hiện chính sách thuế GTGT cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế. Theo đó, Bộ Tài chính cho biết:

  • Hiện số lượng nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế còn nhiều (26 nhóm) và không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp (DN) và làm tăng giá bán ra, ảnh hưởng đến các DN trong chuỗi cung ứng.
  • Việc áp dụng các mức thuế suất (hiện nay gồm 3 mức: 0%, 5% và 10%) đối với các nhóm mặt hàng còn chưa phù hợp. Đối tượng chịu thuế GTGT thuế suất 5% còn nhiều (14 nhóm hàng hóa, dịch vụ) chưa phù hợp với định hướng cải cách hệ thống thuế, tiến tới áp dụng 1 mức thuế suất phổ thông. Việc xác định thuế suất đối với một số hàng hóa dựa vào mục đích sử dụng nên gây vướng mắc cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế.
  • Đối với doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT có mức từ 100 triệu đồng trở xuống/năm cần phải nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp mức biến động của giá và một số yếu tố khác cho phù hợp bối cảnh kinh tế – xã hội.
  • Quy định về giá tính thuế GTGT đối với hoạt động kinh doanh bất động sản còn có cách hiểu khác nhau giữa người nộp thuế và cơ quan thuế. Đồng thời, quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào cần phải chặt chẽ hơn nữa để góp phần ngăn chặn gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT, chống thất thu ngân sách.

2. Hoàn thiện quy định về chính sách thuế GTGT

Bộ Tài chính cho rằng:

Cần phải nghiên cứu bổ sung quy định hoàn thuế GTGT đối với DN sản xuất cung ứng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT 5% mà đầu vào chủ yếu áp dụng thuế suất 10%; nghiên cứu sửa đổi quy định về hoàn thuế đối với dự án đầu tư để xử lý bất cập phát sinh trong thực tế và tạo điều kiện cho DN đầu tư, đổi mới công nghệ thông qua đó tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của DN. Do vậy, cần thiết phải ban hành Luật Thuế GTGT (sửa đổi) nhằm hoàn thiện quy định về chính sách thuế GTGT để bao quát toàn bộ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu; bảo đảm tính minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện Luật để góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả của hoạt động quản lý thuế trong phòng, chống trốn thuế, thất thu và nợ thuế; đảm bảo thu đúng thu đủ vào NSNN, đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN.

Đồng thời khắc phục các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT thời gian qua; tháo gỡ bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật thuế GTGT và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan; bảo đảm tính khả thi, minh bạch và thuận lợi cho tổ chức thực hiện, khơi thông, phát huy nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội. Sửa đổi, bổ sung những quy định nhằm phù hợp với xu hướng cải cách thuế của quốc tế.

Dự thảo Luật Thuế GTGT (sửa đổi) cũng đã đổi mới các nội dung và các điều luật theo hướng gia tăng các quy định, luật hóa các quy định đã thực hiện ổn định tại văn bản dưới luật nhằm cải cách thủ tục hành chính; cải cách thủ tục quản lý thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai, thuận tiện, thống nhất, ổn định chính sách, thực hiện quản lý thuế điện tử, bảo vệ quyền lợi người nộp thuế, tạo môi trường thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật về thuế, tự giác nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN. Luật Thuế GTGT sửa đổi cơ bản vẫn được kế thừa từ Luật hiện hành nhưng có chỉnh lý, bổ sung cho phù hợp với nội dung chính sách. Theo đó, dự thảo Luật:

  • Giữ nguyên nội dung quy định tại 05 Điều của Luật thuế GTGT hiện hành gồm: phạm vi điều chỉnh (Điều 1); thuế GTGT (Điều 2); đối tượng chịu thuế (Điều 3); căn cứ tính thuế (Điều 6); phương pháp tính thuế (Điều 9). Bỏ 01 Điều của Luật thuế GTGT hiện hành quy định về hóa đơn, chứng từ (Điều 14).
  • Sửa đổi, bổ sung các nội dung quy định tại 10 Điều của Luật thuế GTGT hiện hành gồm: người nộp thuế (Điều 4); đối tượng không chịu thuế (Điều 5); giá tính thuế (Điều 7); thuế suất (Điều 8); phương pháp khấu trừ thuế (Điều 10); phương pháp tính trực tiếp trên GTGT (Điều 11); khấu trừ thuế GTGT đầu vào (Điều 12); các trường hợp hoàn thuế (Điều 13); hiệu lực thi hành (Điều 15); tổ chức thực hiện (Điều 16).
  • Bổ sung 01 Điều quy định về thời điểm xác định thuế GTGT.

V. Quyết liệt triển khai áp dụng hóa đơn điện tử trong kinh doanh xăng dầu

Theo thống kê mới nhất từ Tổng cục Thuế, việc xuất hóa đơn điện tử sau mỗi lần bán xăng dầu, trên cả nước hiện đã có trên 4.100 cửa hàng kinh doanh bán lẻ xăng dầu thực hiện phát hành hóa đơn điện tử (HĐĐT) theo từng lần bán hàng, tăng 151,8% so với thởi điểm 01/12/2023. Đáng chú ý có nhiều địa phương mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng tỷ lệ cửa hàng xăng dầu thực hiện phát hành HĐĐT theo từng lần bán hàng đạt cao.

1. Tăng 151,8% số lượng cửa hàng xăng dầu áp dụng HĐĐT

Triển khai Công điện số 1284/CĐ-TTg ngày 01/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành Công văn số 13348/BTC-TCT ngày 04/12/2023 đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với Bộ Tài chính trong công tác triển khai HĐĐT đối với lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, xăng dầu và Thông báo số 1144/TB-BTC ngày 07/12/2023 phân công nhiệm vụ chi tiết cho các đơn vị thuộc và trực thuộc để triển khai thực hiện. Theo đó:

  • Tổng cục Thuế đã ban hành nhiều văn bản: Công văn số 5080/TCT-DNL ngày 13/11/2023; Công văn số 5468/TCT-DNL ngày 05/12/2023; Công điện số 10/CĐ-TCT ngày 19/12/2023 chỉ đạo các Cục Thuế thực hiện ngay việc tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành tại địa phương chủ động phối hợp với cơ quan thuế khẩn trương triển khai các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, quyết liệt yêu cầu các đơn vị kinh doanh bán lẻ xăng dầu phát hành HĐĐT sau từng lần bán hàng theo quy định của pháp luật, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính.
  • Tại từng địa phương, Cục Thuế đã phối hợp rất chặt chẽ với các sở, ban ngành tại địa phương tham mưu với UBND thành lập đoàn công tác liên ngành làm việc trực tiếp với các DN, cửa hàng kinh doanh bán lẻ xăng dầu nắm bắt thực trạng để tham mưu UBND ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện tại địa phương gắn với từng địa bàn, DN, cửa hàng bán lẻ xăng dầu; tăng cường, đa dạng các hình thức tuyên truyền quy định về phát hành HĐĐT theo từng lần bán hàng đến từng DN, cửa hàng kinh doanh bán lẻ xăng dầu; tổ chức hội nghị chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu giải pháp giữa các DN kinh doanh xăng dầu và công ty cung cấp giải pháp;…
  • Thống kê nhanh kết quả báo cáo của các Cục Thuế cho thấy, đến nay, có trên 4.100 cửa hàng kinh doanh bán lẻ xăng dầu trên cả nước đã thực hiện phát hành HĐĐT theo từng lần bán hàng (tăng 1.400 cửa hàng so với thời điểm 01/12/2023). Các DN khác cũng đang khẩn trương, tích cực đẩy nhanh tiến độ triển khai các giải pháp để thực hiện việc phát hành HĐĐT đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nhiều địa phương có tỷ lệ DN đã triển khai đạt cao như: Bắc Ninh, Thanh Hóa, Yên Bái, Quảng Nam, Cao Bằng, Kon Tum, Thừa Thiên Huế,…

2. Giải pháp triển khai trong thời gian tiếp theo

    Để đảm bảo 100% các cửa hàng xăng dầu trong cả nước thực hiện nghiêm về theo tinh thần của Chính phủ về phát hành HĐĐT theo từng lần bán hàng, Bộ Tài chính tiếp tục chỉ đạo Tổng cục Thuế chỉ đạo cơ quan thuế tại địa phương quyết liệt triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về HĐĐT đối với kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo đúng quy định tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ về hóa đơn, chứng từ. Cụ thể:

    • Thứ nhất, chia sẻ kinh nghiệm của các địa phương thực hiện có kết quả cao để các địa phương khác nghiên cứu, hướng dẫn DN, cửa hàng kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại địa phương triển khai thực hiện.
    • Thứ hai, quyết liệt triển khai nhiệm vụ đến các đồng chí lãnh đạo Cục Thuế, lãnh đạo Phòng, Chi cục Thuế và cụ thể đến công chức quản lý đơn vị để làm việc, tuyên truyền chủ trương, chính sách quy định pháp luật về HĐĐT tới từng DN, cửa hàng kinh doanh bán lẻ xăng dầu để các đơn vị hiểu rõ, nhận thức đầy đủ trách nhiệm và cam kết thực hiện được phát hành HĐĐT sau từng lần bán hàng theo quy định.
    • Thứ ba, tham mưu UBND thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để thực hiện kiểm tra các DN, cửa hàng kinh doanh bán lẻ xăng dầu trên địa bàn về tình hình chấp hành quy định pháp luật về hóa đơn, chứng từ; xử lý nghiêm các trường hợp không thực hiện hoặc cố tình không thực hiện quy định về phát hành HĐĐT theo từng lần bán hàng theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1284/CĐ-TTg ngày 01/12/2023.

    VI. Ngành Thuế quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu NSNN năm 2024

    Chiều ngày 18/01/2024 Tổng cục Thuế tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ công tác thuế năm 2024. Dự hội nghị có đại diện các bộ, ngành, các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, tập thể lãnh đạo Tổng cục Thuế, lãnh đạo các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế; 63 điểm cầu tại Cục Thuế tỉnh, thành phố và 413 Chi cục Thuế trực thuộc.

    Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết:

    – Trong bối cảnh nền kinh tế năm 2024 được dự báo sẽ tiếp tục phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Các tổ chức quốc tế và trong nước dự báo nhiều rủi ro tiềm ẩn từ môi trường kinh tế thế giới vẫn còn hiện hữu và tiếp tục tác động tiêu cực lên triển vọng phục hồi tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. “Điều này sẽ tác động rất lớn, đặt ra nhiều thách thức cho ngành Tài chính nói chung và ngành Thuế nói riêng trong triển khai nhiệm vụ, đặc biệt công tác quản lý thu, đòi hỏi ngành Thuế cần tiếp tục nỗ lực hơn trong triển khai nhiệm vụ, công tác thuế năm 2024.” – Bộ trưởng Hồ Đức Phớc đặc biệt lưu ý.

    – Theo Bộ trưởng, trong những năm qua, Tổng cục và toàn hệ thống thuế đã đạt được những bước tiến dài trong tiến trình chuyển đổi số công tác quản lý thuế. Điển hình có 2 năm liên tiếp Tổng cục Thuế được tôn vinh là đơn vị dẫn đầu trong chuyển đổi số. Trong đó, mới đây nhất, Tổng cục Thuế tiếp tục được được Bộ Thông tin và Truyền thông tôn vinh “Dịch vụ khai thuế GTGT đối với phương pháp khấu trừ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh” là một trong 4 dịch vụ công trực tuyến xuất sắc đáp ứng tốt nhất các tiêu chí “toàn trình” và “toàn dân”. “Điều này cho thấy, công tác chuyển đổi số mà ngành Thuế đang triển khai thực hiện đã đi đúng hướng và đáp ứng đúng yêu cầu của Bộ Tài chính và Chính phủ trong số hóa toàn diện công tác quản lý thuế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ với NSNN và có tác động mạnh mẽ trong công tác quản lý và chuyển đổi số theo định hướng ‘Chính phủ điện tử’, góp phần quan trọng trong minh bạch nguồn thu NSNN.” – Bộ trưởng Hồ Đức Phớc ghi nhận.

    – Để tiếp tục triển khai nhiệm vụ công tác thuế năm 2024 và thực hiện thành công Chiến lược hiện đại hóa ngành Thuế, Bộ trưởng Bộ Tài Chính đề nghị Tổng cục Thuế thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

    • Một là, tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo điều hành của Chính phủ tại Nghị quyết 01; Nghị quyết 02 và kế hoạch hành động của Bộ Tài chính; Triển khai toàn diện, đồng bộ các giải pháp quản lý thu, tiếp cận toàn diện các nguồn thu, phấn đấu hoàn thành dự toán thu NSNN 2024 được Quốc Hội, Chính phủ, Bộ Tài chính giao.
    • Hai là, theo dõi sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, sức khỏe doanh nghiệp để kịp thời, chủ động tham mưu Bộ Tài chính, Chính phủ, Quốc hội có các biện pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bằng các chính sách miễn, giảm, gia hạn; sửa đổi bổ sung văn bản quy phạm pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
    • Ba là, chủ động triển khai kịp thời các đề án xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo đúng tiến độ theo chương trình công tác đề ra. Thường xuyên rà soát những điểm còn bất cập, chồng chéo trong quy định pháp luật thuế, các quy trình nghiệp vụ, thủ tục hành chính để tham mưu sửa đổi và bổ sung kịp thời.
    • Bốn là, triển khai hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, các chuyên đề chống thất thu, đặc biệt trong một số lĩnh vực như: giao dịch liên kết, hoàn thuế, thương mại điện tử, gian lận sử dụng hóa đơn điện tử; tăng cường công tác quản lý, đôn đốc, cưỡng chế thu hồi nợ thuế,…
    • Năm là, tập trung xử lý giải quyết hoàn thuế GTGT để hỗ trợ người nộp thuế có nguồn vốn sản xuất kinh doanh, đảm bảo kịp thời, thận trọng, chặt chẽ, đúng đối tượng, đúng quy định pháp luật. Chủ động thanh tra các đối tượng hoàn thuế thường xuyên để góp phần rút ngắn thời gian hoàn thuế. Ứng dụng quản lý rủi ro chủ động trong công tác thanh tra, thanh tra trước để đẩy nhanh, hỗ trợ công tác giải quyết hoàn ngay từ những tháng đầu năm.
    • Sáu là, tiếp tục phát huy hệ thống hóa đơn điện tử để phân tích, ngăn chặn kịp thời chống buôn bán hóa đơn; nâng cao một bước chất lượng, hiệu quả ứng dụng và xử lý rủi ro, phân tích đối với dữ liệu hóa đơn điện tử. Tiếp tục triển khai mở rộng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, hóa đơn điện tử trong kinh doanh xăng dầu và mở rộng sang các khu vực khác, các lĩnh vực có doanh số cao (như BOT phí đường bộ, du lịch, cáp treo;…).
    • Bảy là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin và tiếp tục đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số toàn diện công tác quản lý thuế.
    • Tám là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tinh thần trách nhiệm, văn hóa công sở của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn ngành Thuế, đặc biệt là vai trò trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Tăng cường giám sát, thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ, chủ động phát hiện hành vi vi phạm của cán bộ công chức và xử lý nghiêm theo quy định.

    Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Tổng cục trưởng Mai Xuân Thành khẳng định sẽ cùng tập thể Lãnh đạo Tổng cục phát huy truyền thống đoàn kết nhất trí trong lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị chuyên môn của Tổng cục tiếp tục nghiên cứu triển khai các giải pháp thu ngân sách, đặc biệt phấn đấu khai thác nguồn thu tiềm năng. Đồng thời chỉ đạo cơ quan thuế địa phương quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu trong điều kiện năm 2024 dự báo sẽ còn nhiều khó khăn. “Với quyết tâm thực hiện chủ trương “Lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ”, trong thời gian tới, ngành Thuế tiếp tục tăng cường cải cách thủ tục hành chính, phù hợp điều kiện Việt Nam và thông lệ quốc tế. Đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ, tiết giảm chi phí xã hội, tạo công bằng, công khai, minh bạch trong công tác quản lý thu từ đó mang lại rất nhiều lợi ích cho người dân và cộng đồng DN” – Tổng cục trưởng Mai Xuân Thành nhấn mạnh.

    Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đề nghị Thủ trưởng các đơn vị trong toàn ngành Thuế tập trung triển khai toàn diện những nhiệm vụ mà Bộ trưởng đã chỉ đạo và Tổng cục phân công đến từng đơn vị. Đồng thời phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu NSNN năm 2024 và các năm tiếp theo, từ đó góp phần cùng cả nước hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, an sinh xã hội và tạo tiềm lực vững chắc cho công cuộc phát triển đất nước theo các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ.

    VII. Kê khai và kế toán thuế có vai trò xương sống trong công tác quản lý thuế

    Chiều ngày 12/01/2024, Vụ Kê khai và Kế toán thuế tổ chức Hội nghị triển khai công tác thuế năm 2024. Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế.

    Báo cáo tại hội nghị, Vụ trưởng Lê Thị Duyên Hải cho biết tập thể Vụ Kê khai và Kế toán thuế (Vụ KK) dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục về cơ bản đã chủ động triển khai các kế hoạch, chương trình công tác ngay từ đầu năm, nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ đảm bảo tiến độ và chất lượng. Bên cạnh đó, hoàn thành tốt các nhiệm vụ đột xuất do Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính phân công.

    • Đối với nhiệm vụ chủ trì xây dựng Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 105/2020/TT-BTC ngày 03/12/2020 hướng dẫn về đăng ký thuế, Thông tư số 19/2021/TT-BTC ngày 18/03/2023 hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế đáp ứng triển khai Đề án 06 của Chính phủ, Vụ KK đã và đang tiếp tục lấy, tổng hợp ý kiến của các đơn vị trên cơ sở kết quả trao đổi với Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để hoàn thiện dự thảo Thông tư, trình Bộ ban hành.
    • Đồng thời, Vụ đã xây dựng, triển khai Quy trình hoàn thuế mới vừa đáp ứng yêu cầu quản lý đối với người nộp thuế (NNT), vừa nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ công tác cho công chức thuế.
    • Vụ KK cũng đã chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan, đơn vị liên quan phân tích, nâng cấp ứng dụng và hướng dẫn, theo dõi, hỗ trợ Cục Thuế xử lý nhận, nhập tờ khai khi NNT có văn bản của cơ quan điều tra; xử lý tạm dừng nhận hồ sơ khai thuế đối với trường hợp Thông báo NNT không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký thuế
    • Nhằm mục đích điện tử hóa các quy trình nghiệp vụ, bổ sung các chức năng kiểm soát, rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, rút ngắn thời gian xử lý công việc của các cán bộ thuế, trong năm, Vụ KK đã tập trung triển khai một số nghiệp vụ, công cụ trên ứng dụng TMS, ứng dụng ký điện tử

    Phát biểu tại hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Mai Sơn ghi nhận và biểu dương những kết quả đã đạt được của Vụ KK, đồng thời ghi nhận những đóng góp của Vụ trong công tác chuyển đổi số của ngành. Trong năm 2024, Phó Tổng cục trưởng giao nhiệm vụ cho Vụ KK trong năm 2024, cụ thể:

    • Hoàn thiện xây dựng thông tư hướng dẫn sử dụng số định danh cá nhân làm mã số thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 105/2020/TT-BTC.
    • Vụ KK cũng cần xây dựng kế hoạch đánh giá lại thông tin nộp thuế điện tử trên cổng thông tin điện tử của ngành thuế và kho bạc Nhà nước, đảm bảo số nộp quản lý trên TMS được cập nhật kịp thời; xây dựng các công cụ giúp kiểm soát việc xử lý dữ liệu đảm bảo chính xác, đúng nguyên tắc nghiệp vụ.
    • Ngoài ra, Phó Tổng cục trưởng đề nghị Vụ KK tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan, đơn vị liên quan phân tích, nâng cấp ứng dụng và hướng dẫn, theo dõi, hỗ trợ Cục Thuế xử lý nhận, nhập tờ khai khi NNT có văn bản của cơ quan điều tra; xử lý tạm dừng nhận hồ sơ khai thuế đối với trường hợp thông báo NNT không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký thuế. “Đối với công tác triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hoàn thuế để ngăn chặn tình trạng hoàn thuế khống, sử dụng hóa đơn giả, đề nghị Vụ KK tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Cục Công nghệ Thông tin và Ban Quản lý rủi ro tiếp tục đẩy mạnh công tác rà soát, hoàn thiện và triển khai thành công ứng dụng này góp phần minh bạch và phòng chống vi phạm trong lĩnh vực hóa đơn.” – Phó Tổng cục trưởng Mai Sơn nhấn mạnh.

    VIII. Ngành Thuế luôn đi đầu trong công tác triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số

    Chiều ngày 11/01/2024, Tổng cục Thuế tổ chức Hội nghị triển khai công tác Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT). Tham dự hội nghị có ông Võ Anh Trung Phó Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính (Bộ Tài chính); cùng lãnh đạo các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế.

    Báo cáo tại hội nghị, Cục trưởng Cục CNTT Phạm Quang Toàn cho biết:

    • Trong năm 2023, Cục CNTT đã hoàn thành xây dựng và ban hành 3 quy trình, đang xây dựng 2 quy chế. Ngoài ra, Cục CNTT cũng đã hoàn thành kiểm tra hoạt động ứng dụng CNTT tại Cục Thuế tỉnh Tây Ninh, Tiền Giang, Đồng Nai, Hà Tĩnh.
    • Bên cạnh đó, Cục CNTT đã hoàn thành 173 phiên bản nâng cấp ứng dụng quản lý thuế và hỗ trợ người nộp thuế. Việc nâng cấp và triển khai ứng dụng CNTT đáp ứng các bổ sung, sửa đổi chính sách thuế mới đã góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý thuế và hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ nghĩa vụ thuế. Về công tác quản lý, triển khai hạ tầng kĩ thuật CNTT toàn ngành, Cục đã triển khai hệ thống hạ tầng kỹ thuật CNTT, đảm bảo các hệ thống hoạt động ổn định, nâng cao hiệu năng xử lý của hệ thống.
    • Trong tháng 11/2023, Tổng cục Thuế đã tổ chức loạt hội nghị để trình bày, giới thiệu về 19 công cụ do 11 Cục Thuế tự xây dựng và trao đổi, thảo luận về cơ sở pháp lý, nội dung nghiệp vụ và yêu cầu quản lý thực tế từ đó đánh giá khả năng áp dụng và đề xuất phương án triển khai tiếp theo. Ngay sau khi kết thúc Hội nghị, Cục đã xây dựng kế hoạch, phương án triển khai chi tiết cho từng công cụ.”

    Phát biểu tại hội nghị, ông Võ Anh Trung – Phó Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính (Bộ Tài chính) bày tỏ sự ghi nhận thành tích và những đóng góp của hệ thống CNTT ngành Thuế đã góp phần cùng với các đơn vị trong toàn ngành Tài chính tạo nền móng cho công cuộc chuyển đổi số ngành Tài chính và của Chính phủ. Ông Võ Anh Trung mong muốn trong năm 2024, Cục CNTT của Tổng cục Thuế tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp với Cục Tin học và Thống kê tài chính để giúp ngành Tài chính trở thành một trong những ngành dẫn đầu trong triển khai các hoạt động ứng dụng công nghệ mới.

    Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Đặng Ngọc Minh chi nhận và chúc mừng các thành tích mà Cục CNTT đã đạt được. “Năm 2023 là năm chuyển đổi số, yêu cầu sự chuyển biến không chỉ ở ngành Tài chính mà còn ở các bộ, ban, ngành khác. Trong đó, ngành Thuế luôn đi đầu trong công tác tạo lập và khai thác dữ liệu số để tạo ra giá trị, đóng góp một phần không nhỏ cho sự thành công của Đề án 06 của Thủ tướng Chính phủ” – Phó Tổng cục trưởng đánh giá. Để triển khai công tác ứng dụng CNTT của ngành Thuế năm 2024, Phó Tổng cục trưởng Đặng Ngọc Minh đề nghị Cục CNTT tập trung triển khai đồng bộ giải pháp, trong đó cần đặc biệt lưu ý một số nhóm nhiệm vụ sau:

    • Một là, hoàn thiện dự thảo các quy trình, quy chế, hướng dẫn cơ chế, chính sách.
    • Hai là, triển khai các ứng dụng CNTT đáp ứng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính thuế và xây dựng chính phủ điện tử.
    • Ba là, thực hiện triển khai nâng cấp tất cả các hệ thống ứng dụng đáp ứng Luật QLT số 38/2019/QH14, các Nghị định, các Thông tư hướng dẫn, Thông tư hướng dẫn nghiệp vụ thuế nội địa số 111/2021/TT-BTC.
    • Bốn là, tiếp tục hoàn thiện ứng dụng quản lý hóa đơn điện tử đáp ứng việc quản lý rủi ro, thanh tra kiểm tra.
    • Năm là, triển khai hạ tầng kỹ thuật CNTT đáp ứng các yêu cầu triển khai các ứng dụng tập trung của ngành.
    • Sáu là, nâng cao chất lượng hỗ trợ tại Tổng cục bằng cách đào tạo chuyên sâu đội ngũ hỗ trợ, đặc biệt là đội ngũ hỗ trợ cho dịch vụ hóa đơn điện tử để đáp ứng kịp thời yêu cầu cho người nộp thuế, các tổ chức truyền nhận và các đơn vị có liên quan tới việc khai thác, sử dụng các ứng dụng có liên quan.
    • Bảy là, triển khai các khóa đào tạo, tập huấn do Cục CNTT chủ trì đã được Tổng cục phê duyệt với 09 khóa với 19 lớp và 757 học viên.

    IX. Tổng kết công tác kế toán thuế năm 2023

    Ngày 09/01/2024, Tổng cục Thuế đã tổ chức Hội nghị trực tuyến công tác kế toán thuế năm 2023, giải pháp, phương hướng nhiệm vụ công tác kế toán thuế năm 2024. Phó Tổng cục trưởng Mai Sơn dự và chỉ đạo hội nghị; cùng tham dự có và đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế.

    1. Công tác kế toán thuế triển khai đúng quy định

    Báo cáo tại hội nghị, Vụ trưởng Vụ Kê khai Lê Thị Duyên Hải cho biết:

    • Triển khai Thông tư số 111/2021/TT-BTC ngày 14/12/2021 (Thông tư số 111/2021/TT-BTC) của Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế nội địa áp dụng từ kỳ báo cáo kế toán thuế năm 2022, Tổng cục Thuế đã tổ chức phân tích, nâng cấp hệ thống ứng dụng CNTT, đã ban hành công văn số 408/TCT-KK ngày 13/02/2023 gửi Cục Thuế các tỉnh/thành phố hướng dẫn triển khai các nghiệp vụ liên quan đến công tác kế toán thuế đáp ứng Thông tư số 111/2021/TT-BTC.
    • Theo đó, kể từ 01/01/2023, toàn bộ các chức năng dữ liệu đầu vào gồm tờ khai, chứng từ, quyết định, điều chỉnh dữ liệu đã được nâng cấp để đáp ứng yêu cầu hạch toán theo Thông tư số 111/2021/TT-BTC. Tổng cục Thuế đã nâng cấp, đáp ứng 02 mẫu sổ kế toán, 13 mẫu báo cáo kế toán.
    • Theo số liệu thống kê cơ quan thuế trên toàn quốc đã lập và phê duyệt 13.263 mẫu báo cáo, trong đó 413 cơ quan thuế đã lập gửi báo cáo cung cấp thông tin tài chính cho Kho bạc Nhà nước các cấp theo quy định. Trong quá trình triển khai đã phát hiện và xử lý một số những vấn đề tồn tại, vướng mắc liên quan đến nghiệp vụ kế toán thuế trong triển khai thực hiện Thông tư số 111/2021/TT-BTC.

    2. Triển khai xây dựng mã định danh khoản phải nộp (ID)

    Đến nay, qua quá trình triển khai công tác nộp thuế bằng ID, phối hợp thu NSNN giữa cơ quan thuế, Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại đã đạt được một số kết quả tích cực. Tất cả nghĩa vụ phải nộp của người nộp thuế được ghi nhận tại hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung đã được cấp mã ID khoản phải nộp, tổng số ID đã được cấp là 842.624.985 ID.

    Công tác phối hợp thu NSNN với hệ thống Kho bạc Nhà nước; các ngân hàng thương mại được triển khai tốt. Đồng thời, cơ quan thuế địa phương tích cực hướng dẫn, tuyên truyền đến người nộp thuế và thường xuyên trao đổi, thông tin về tình hình triển khai với Nhóm hỗ trợ triển khai ID tại Tổng cục Thuế.

    3. Phương hướng cho hoạt động kế toán thuế 2024

    Phát biểu tại hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Mai Sơn nhấn mạnh Thông tư số 111/2021/TT-BTC ra đời đã phần nào giải quyết được những vấn đề tồn đọng trong công tác kê khai kế toán thuế trước đây, đặc biệt là trong vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin để chia sẻ, kết nối dữ liệu.

    Căn cứ những kết quả đã đạt được nêu trên, để chuẩn bị cho công tác lập, tổng hợp báo cáo quyết toán thu NSNN năm 2023, mở sổ kế toán năm 2024 đảm bảo đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn, một số nội dung cơ quan thuế các cấp cần lưu ý trong triển khai trong thời gian tới như sau:

    • Một là, rà soát, cập nhật và hạch toán đầy đủ các nghiệp vụ quản lý thuế phản ánh số thuế phải thu, đã thu, còn phải thu, phải hoàn, đã hoàn, còn phải hoàn, miễn, giảm, khoanh nợ, xóa nợ, chứng từ kế toán thuế vào hệ thống quản lý thuế tập trung.
    • Hai là, thực hiện rà soát dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu lịch sử, dữ liệu nợ và nộp thừa.
    • Ba là, các Vụ/đơn vị thuộc Tổng cục Thuế và các Cục Thuế tiến hành rà soát, đề xuất, kiến nghị các nội dung cần hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 111/2021/TT-BTC.
    • Bốn là, kiện toàn bộ máy công tác kế toán thuế tại cơ quan thuế các cấp; xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho công chức về công tác kế toán thuế.

    X. Năm 2023, Vụ Chính sách đã hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng

    Sáng ngày 04/01/2024, Vụ Chính sách tổ chức Hội trị triển khai công tác năm 2024. Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo một số đơn vị thuộc Tổng cục Thuế.

    Báo cáo tại hội nghị, Vụ trưởng Vụ Chính sách Lưu Đức Huy cho biết:

    • Tính đến ngày 06/12/2023, Vụ Chính sách đã hoàn thành trình cấp có thẩm quyền ban hành 01 Nghị quyết, 02 Nghị định và 01 Thông tư, các văn bản còn lại đang tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện theo đúng quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
    • Trong năm 2023, ngoài nhiệm vụ chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo chương trình của Chính phủ và Bộ Tài chính giao, Vụ Chính sách đã phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Bộ trong công tác phối hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về chính sách thuế hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn hỗ trợ người dân và DN trong chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội.
    • Ngoài ra, Vụ Chính sách đã nỗ lực giải quyết số lượng lớn văn bản với nhiều hồ sơ có tính chất kỹ thuật, liên quan đến các quy định của pháp luật chuyên ngành; nhiều hồ sơ có tính chất phức tạp liên quan đến vụ án đang trong quá trình tố tụng, liên quan đến xử lý và thực hiện kết quả Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước và giải quyết một số vấn đề vướng mắc sau thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế và các cơ quan liên quan đối với người nộp thuế.
    • Để đạt được kết quả nêu trên là tổng hòa của nhiều yếu tố: sự chỉ đạo sát sao, thường xuyên liên tục của Lãnh đạo Tổng cục, sự tận tụy, trách nhiệm cao, chủ động khắc phục mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của tập thể lãnh đạo, công chức đơn vị và sự tích cực tham gia phối hợp của các đơn vị liên quan. Đây là những yếu tố quyết định sự thành công và là bài học quan trọng nhất trong công tác xây dựng chính sách thuế, phí và lệ phí trong năm 2023.

    Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Đặng Ngọc Minh đã chúc mừng và ghi nhận những kết quả mà Vụ Chính sách đạt được, đồng thời chỉ đạo một số nội dung nhiệm vụ trọng tâm triển khai trong năm 2024. Cụ thể:

    • Một là, tiếp tục tính nhất quán, thực hiện pháp luật trong thực hiện hướng dẫn DN tuân thủ các chính sách pháp luật thuế
    • Hai là, học hỏi kinh nghiệm các nước, nghiên cứu, tham mưu xây dựng cơ chế mới đối với việc áp dụng thuế GTGT
    • Ba là, phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế tổ chức nghiên cứu những chính sách thuế quốc tế như những quy định về thuế tối thiểu toàn cầu để đề xuất những giải pháp chính sách ban hành ở Việt Nam.

    Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Phó Tổng cục trưởng Đặng Ngọc Minh và ý kiến đóng góp của đại diện các đơn vị tham gia hội nghị, Vụ trưởng Lưu Đức Huy đã bày tỏ quyết tâm cùng với tập thể cán bộ, công chức của Vụ Chính sách phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2024.

    XI. Tổng cục Thuế tăng cường giám sát việc cải cách hệ thống thuế

    Tổng cục Thuế đã ban hành Quyết định số 2010/QĐ-TCT ban hành Kế hoạch giám sát việc thực hiện kế hoạch cải cách hệ thống thuế đến năm 2025. Mục đích của kế hoạch nhằm đánh giá toàn diện việc thực hiện của các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế, Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với các nội dung, lộ trình cải cách công tác quản lý thuế đã đề ra. Cụ thể:

    • Quyết định 2010/QĐ-TCT làm rõ trách nhiệm, nâng cao chất lượng hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan được giám sát và người đứng đầu các cơ quan được giám sát. Giải quyết các kiến nghị, đề xuất của đối tượng được giám sát để kịp thời điều chỉnh phù hợp trong chỉ đạo điều hành, hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền để hoàn thiện chính sách, pháp luật.
    • Thông qua chương trình giám sát, Tổng cục Thuế sẽ thu thập thông tin làm cơ sở đánh giá tính toàn diện về năng lực, tinh thần đổi mới sáng tạo trong chỉ đạo điều hành của người đứng đầu các cơ quan được giám sát; lan toả các kinh nghiệm, sáng kiến có giá trị trong quá trình thực hiện để áp dụng thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành thực hiện cải cách hiện đại hoá công tác quản lý thuế trong các năm tiếp theo. Việc theo dõi, giám sát đối với các nội dung cải cách công tác quản lý thuế đã được đề ra trong Chiến lược, chương trình và kế hoạch cải cách hệ thống thuế sẽ tạo sự thống nhất, đồng thuận, quyết tâm cao của toàn ngành Thuế để thực hiện đạt hiệu quả cao theo mục tiêu đề ra.

    Để thực hiện được mục tiêu này, Tổng cục Thuế yêu cầu:

    – Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các tiểu ban chỉ đạo có trách nhiệm báo cáo công tác cải cách quản lý thuế theo các nội dung và lộ trình đã đề ra trong chương trình, kế hoạch.

    – Ngoài việc giám sát qua báo cáo, hồ sơ, tài liệu, ý kiến kiến nghị của đối tượng được giám sát và thông tin thu thập được qua các cuộc kiểm tra đối tượng được giám sát, Tổng cục Thuế có thể tổ chức các đoàn khảo sát, giám sát trực tiếp tại cục thuế.

    • Báo cáo, biên bản của đoàn giám sát cần đánh giá đầy đủ, bảo đảm trung thực, khách quan, minh bạch; chỉ ra những kết quả đạt được; những tồn tại, hạn chế và trách nhiệm của cơ quan, cá nhân, những chuyển biến sau khi thực hiện.
    • Quá trình triển khai giám sát bảo đảm tổ chức các đoàn công tác tinh gọn, đủ năng lực làm việc, kiên quyết giảm thiểu các thủ tục hành chính, không làm cản trở việc thực hiện nhiệm vụ bình thường của các đối tượng được giám sát; cá thể hoá trách nhiệm; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí.
    • Việc giám sát được thực hiện thường xuyên hoặc theo chuyên đề hàng năm; đối với giám sát trực tiếp sẽ được thông báo và gửi chương trình trước khi thực hiện giám sát cho đối tượng được giám sát.
      Trên cơ sở kết quả giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp:
      • Bộ phận tổng hợp tiến hành phân tích, đánh giá kết quả tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch cải cách hệ thống thuế đến năm 2025 theo từng nội dung; xây dựng báo cáo kết quả giám sát đồng thời đề xuất, kiến nghị Ban chỉ đạo tham mưu với Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính và Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp, nội dung triển khai thực hiện Chiến lược đạt kết quả tốt.
      • Kịp thời kiến nghị, xử lý, điều chỉnh mục tiêu, nội dung hoạt động và lộ trình triển khai của Kế hoạch cải cách hệ thống thuế đến năm 2025 khi thông qua việc giám sát phát hiện những rủi ro, sự kiện thay đổi bất lợi, cản trở vệc đạt được các mục tiêu, kết quả cải cách công tác quản lý thuế mà Chiến lược đã đề ra.
      • Trên cơ sở kết quả giám sát, khi cần thiết phải kiểm tra chấn chỉnh, xử lý những tồn tại, vướng mắc để bảo đảm các chương trình, kế hoạch cải cách công tác quản lý thuế được thực hiện nghiêm thì các nội dung này sẽ được đề xuất với cấp có thẩm quyền lồng ghép trong kế hoạch kiểm tra nội bộ hàng năm.

    XII. Ngành Thuế kiên quyết không để tình trạng nợ thuế dây dưa, kéo dài

    Năm 2023, ngành Thuế đã tăng cường thực hiện các giải pháp quản lý, thu hồi tiền thuế nợ; đồng thời không để dây dưa, kéo dài, hạn chế nợ mới phát sinh.

    1. Thu hồi được 41.557 tỷ đồng tiền thuế nợ

    Trong năm 2023, cùng với việc nuôi dưỡng và quản lý nguồn thu, trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, cơ quan thuế các cấp đã đẩy mạnh tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ người nộp thuế, giải quyết kịp thời các trường hợp người nộp thuế được gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế, không tính tiền chậm, miễn tiền chậm nộp, xóa nợ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và các nghị quyết, nghị định của Quốc hội, Chính phủ.

    Đồng thời, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, cơ quan thuế tăng cường thực hiện các giải pháp quản lý, thu hồi tiền thuế nợ, không để dây dưa, kéo dài, hạn chế nợ mới phát sinh; đặc biệt kiên quyết, quyết liệt đối với các đối tượng chây ì.

    • Tổng cục Thuế đã xây dựng và giao chỉ tiêu thu nợ thuế năm 2023 đến từng cục thuế, trong đó phấn đấu thu tối thiểu 80% các khoản tiền thuế nợ đến 90 ngày và trên 90 ngày thời điểm 31/12/2022; giải quyết dứt điểm các khoản tiền thuế đang chờ điều chỉnh, các khoản tiền thuế nợ đang xử lý mà cơ quan thuế đã tiếp nhận hồ sơ và đang trong thời gian thực hiện các thủ tục còn tồn đọng tại thời điểm ngày 31/12/2022. Đồng thời, giám sát chặt chẽ các cục thuế trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ; nhắc nhở và thông báo bổ sung những trường hợp nợ thuế mới phát sinh lớn để các cục thuế đôn đốc kịp thời vào ngân sách.
    • Theo báo cáo, trong năm 2023, ngành Thuế đã thu hồi được 41.557 tỷ đồng (trong đó, thu bằng biện pháp quản lý nợ là 37.605 tỷ đồng; thu bằng biện pháp cưỡng chế nợ là 3.952 tỷ đồng). Một số cục thuế làm tốt công tác thu hồi nợ thuế như: Hải Phòng, Quảng Nam, Hậu Giang, Hà Nội, Phú Thọ, Vũng Tàu…
    • Ước tính đến thời điểm ngày 30/12/2023, tổng số tiền thuế nợ ngành Thuế quản lý là 163.591 tỷ đồng, tăng 2,6% so với thời điểm ngày 30/11/2023, tăng 10,7% so với thời điểm ngày 31/12/2022.
      • Theo lý giải của Tổng cục Thuế, tiền thuế nợ tăng so với thời điểm 31/12/2022 một phần do kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động, tác động xấu đến nền kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, tài sản đều đã thế chấp ở ngân hàng nên khi thực hiện cưỡng chế thì chưa thu hồi được; một số người nộp thuế rời bỏ thị trường làm tăng tiền thuế nợ khó thu.
      • Thêm vào đó, khó khăn chung của thị trường vốn ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình hoạt động các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản dẫn đến nợ các khoản thu từ đất tăng cao. Ngoài ra, các khoản tiền thuế được gia hạn theo Nghị định số 12/2023/NĐ-CP, Nghị định số 36/2023/NĐ-CP đã hết thời gian gia hạn nhưng người nộp thuế gặp khó khăn chưa kịp thời nộp vào ngân sách nhà nước cũng là nguyên nhân làm tăng nợ thuế.

    2. Thành lập các tổ công tác liên ngành để thu hồi nợ thuế

    Tổng cục Thuế cho biết, để quản lý nợ thuế hiệu quả, ngành Thuế sẽ thực hiện:

    • Xây dựng, giao chỉ tiêu thu nợ thuế năm 2024, hàng tháng, quý kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện, đảm bảo đến cuối năm hoàn thành chỉ tiêu được giao.
    • Đồng thời, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các bộ, ngành liên quan như: Cơ quan Công an, Ngân hàng Nhà nước, Toà án, Quản lý thị trường, Kế hoạch đầu tư, Tài nguyên và môi trường… trong việc thu hồi nợ đọng thuế, đặc biệt là xử lý thu hồi các khoản nợ đọng liên quan đến đất đai, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.
    • Tổng cục Thuế yêu cầu các cục thuế đôn đốc thu nợ đối với khoản tiền thuế, tiền thuê đất đã hết thời gian gia hạn nộp thuế theo các nghị định của Chính phủ về gia hạn nộp thuế, cơ quan thuế tổ chức thực hiện các biện pháp đôn đốc và cưỡng chế thu nợ ngay khi hết thời gian gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất.
    • Đặc biệt, trong năm 2024, Tổng cục Thuế cũng tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, thu hồi nợ thuế. Xây dựng và nâng cấp các ứng dụng đáp ứng thay đổi nghiệp vụ quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế theo quy định; tạo thông báo nợ thuế và quyết định cưỡng chế nợ tự động trên hệ thống quản lý thuế tập trung và gửi người nộp thuế bằng phương thức điện tử, chữ ký số.
    • Ngoài ra, cơ quan Thuế cũng tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trên địa bàn thành lập các tổ công tác liên ngành để thu hồi nợ thuế, kêu gọi sự vào cuộc của các cấp chính quyền từ UBND cấp huyện đến UBND cấp xã, ban quản lý chợ trong công tác thu hồi nợ thuế, góp phần giảm số nợ đọng thuế, tăng thu cho ngân sách nhà nước.

    XIII. Tăng cường đối chiếu dữ liệu hóa đơn và tờ khai thuế GTGT để phòng ngừa rủi ro

    Tổng cục Thuế đang tăng cường đối chiếu dữ liệu hóa đơn GTGT và tờ khai thuế GTGT nhằm phòng ngừa rủi ro và chống thất thu thuế.

    Hiện tại, trên hệ thống hóa đơn điện tử (HĐĐT) của cơ quan thuế đã có khoảng 6 tỷ hóa đơn được tiếp nhận và xử lý. Đây là nguồn dữ liệu lớn cơ quan thuế cần thực hiện rà soát, phân tích dữ liệu, phát hiện rủi ro, phòng chống gian lận về HĐĐT.

    Trong công tác đối chiếu dữ liệu hóa đơn GTGT và tờ khai thuế GTGT, khi toàn Ngành chưa triển khai chức năng chạy tự động kết quả đối chiếu dữ liệu HĐĐT và tờ khai thuế GTGT, trên nguồn dữ liệu về HĐĐT của quý 1/2022 đối với 6 tỉnh triển khai hóa đơn giai đoạn 1 (TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Phú Thọ, Bình Định, TP. Hải Phòng, Quảng Ninh).

    Trong đợt rà soát này, sau khi cơ quan thuế thực hiện rà soát các doanh nghiệp có chênh lệch sai lệch giữa dữ liệu hóa đơn và số liệu kê khai thuế GTGT thì người nộp thuế (NNT) đã thực hiện kê khai bổ sung tờ khai thuế GTGT điều chỉnh tăng số thuế GTGT nhiều nhất tại Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh (35,2 tỷ đồng) và Cục Thuế Hà Nội (32,6 tỷ đồng).

    Qua kết quả báo cáo của các cục thuế gửi về, Tổng cục Thuế cho biết, cần phải thường xuyên rà soát xử lý ngay những trường hợp NNT có số liệu sai lệch về doanh thu và số thuế GTGT, để tránh tình trạng khi số liệu đánh giá đưa xuống kiểm tra thực tế thì NNT đã chuyển sang trạng thái bỏ địa điểm kinh doanh, tạm dừng hoạt động, chuyển địa điểm sau đó gửi hồ sơ lên Sở Kế hoạch và Đầu tư xin giải thể doanh nghiệp nhưng chưa hoàn thành hết các thủ tục liên quan với cơ quan thuế,…

    Tính đến ngày 30/11/2023, theo báo cáo của các cục thuế, số thuế GTGT đầu ra NNT đã thực hiện kê khai bổ sung là 1.921,67 tỷ đồng. Trong đó, phát hiện: có 15.866 NNT tạm dừng hoạt động; 13.023 NNT đã dừng hoạt động; 17.879 NNT bỏ địa chỉ kinh doanh; 1.869 NNT đã chuyển hồ sơ sang Công an.

    Trong quá trình rà soát các trường hợp sai lệch, Tổng cục Thuế và các cục thuế đã phát hiện một số vấn đề tồn tại liên quan đến dữ liệu HĐĐT cần có biện pháp khắc phục để dữ liệu ngày càng chính xác. Cụ thể, hiện không phân biệt được hóa đơn dùng cho các hoạt động xuất, nhập khẩu ủy thác dẫn đến xác định doanh thu không đúng với nghiệp vụ phát sinh. Hóa đơn chiết khấu thương mại/giảm giá hàng bán chưa có quy định thống nhất dẫn đến việc giảm trừ doanh thu không chính xác.

    Cũng có tình trạng hóa đơn người mua đã thực hiện kê khai, khấu trừ nhưng người bán thực hiện điều chỉnh hóa đơn nhưng không thông báo cho người mua biết dẫn đến số liệu đối chiếu hóa đơn và tờ khai có chênh lệch. Hay trường hợp hóa đơn xuất hàng bán trả lại do người mua xuất hóa đơn cho phần hàng trả lại cũng dẫn đến doanh thu trên hóa đơn không phản ảnh thực chất hoạt động của doanh nghiệp.

    Hiện Tổng cục Thuế đang nâng cấp hoàn thiện ứng dụng, nội dung vướng mắc đã được đưa vào đề xuất dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 123/NĐ-CP như: hóa đơn chiết khấu thương mại/giảm giá hàng bán, hàng bán trả lại cần được quy định rõ ràng hơn.

    Bạn đang cần tư vấn thiết kế website bán hàng chuyên nghiệp , tham khảo dịch vụ của NKS nhé

    NKS - Công ty TNHH Giải pháp Công nghệ Tri Thức Mới

    20 năm tư vấn và cung cấp giải pháp xây dựng thương hiệu toàn diện trên Internet

    222 Lê Văn Sỹ, Phường 14, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

    Email: system@nks.vn

    Website: https://nks.com.vn

    Hotline: 0932030958

    Mục lục
    Menu